A Di Đà Phật là ai?” – Tại sao hàng triệu người mỗi ngày đều niệm: “A Di Đà Phật”. Bốn chữ “A Di Đà Phật” này nhất định quý vị đã từng nghe qua. Tại sao nhà nhà đều trì niệm bốn chữ danh hiệu của Ngài.
A Di Đà Phật là giáo chủ của thế giới Tây Phương Cực Lạc. Ngài đã thành Phật từ vô lượng vô biên kiếp trước. Sử dụng 5 đại kiếp (với mỗi đại kiếp là hơn 1,3 tỷ năm) để phác thảo nên một đạo tràng tu học lý tưởng. Phát 48 đại nguyện, xây dựng nên thế giới Cực Lạc với môi trường sống tối ưu, tiếp dẫn cứu độ chúng sanh có đầy đủ Tín, Nguyện, Hạnh về đó tiếp tục tu hành, cư dân Cực Lạc đều có đầy đủ năng lực thần thông diệu dụng, biện tài và thọ mạng vô lượng. Có thể chia 48 Đại Nguyện thành ba nhóm chính là: nhiếp Phật độ nguyện, nhiếp chúng sanh nguyện và tự thụ dụng nguyện. Và sau vô lượng kiếp tu hành tích luỹ công đức, đại nguyện của Ngài cũng viên mãn.
Bài viết này Pháp Duyên sẽ cùng quý vị tìm hiểu về một vị Phật được tán thán là: “Quang Trung Cực Tôn, Phật Trung Chi Vương”. Nội dung bài viết tham khảo từ những lần phúc giảng bộ Kinh Vô Lượng Thọ của Ân Sư Lão Hòa Thượng Tịnh Không và đầu sách: “Niệm Phật Thành Phật”.

Quốc Vương Xuất Gia Từ Vô Lượng Kiếp Trước

Trong Vương phủ, có một vị Quốc Vương tên là Thế Niêu Vương. Ông thường đi nghe giảng Pháp, càng nghe càng hoan hỷ. Một ngày nọ nhìn lại cung điện, tài phú và quyền lực của mình, Quốc Vương tự hỏi liệu những thứ này có làm chúng sanh thoát khổ. Tất cả tài sản, cung điện tráng lệ, quyền lực đều là vật ngoài thân, con người có sinh ắt có tử, vậy một đời người luống qua thứ gì có thể mang theo? Do đó Thế Niêu Vương đưa ra một quyết định là từ bỏ vương vị, xuất gia tu hành tìm con đường giải thoát, Pháp Hiệu là Pháp Tạng Tỳ Kheo. Sau khi xuất gia, Tỳ Kheo Pháp Tạng hướng về thầy của mình là Thế Gian Tự Tại Vương Phật thuật lại nguyện vọng của mình là muốn xây dựng một thế giới hoàn mỹ để chúng sanh đều được giải thoát. Thế Gian Tự Tại Vương Phật biết học trò của mình rất cao minh, có phẩm đức cao thượng, trí tuệ sâu rộng. Lại có chí nguyện thể hiện lòng từ bi chân thật vô tận. Vì vậy, liền đáp ứng lời khải thỉnh từ người học trò này, vì Tỳ Kheo Pháp Tạng mà thuyết Pháp. Biến hóa ra trước mắt Ngài 210 cõi ức Phật trang nghiêm, mục đích là từ trong đây mà lựa chọn, tập hợp những tinh hoa của các cõi nước chư Phật để từ đó có thể xây dựng nên một đạo tràng tu học lý tưởng của mình. Khi phúc giảng “Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh” vào năm 1994, Ân Sư Lão Hòa Thượng Tịnh Không có giảng giải về mặt con số thì 210 cõi ức Phật không phải là quá nhiều. Nhưng ở chỗ này đừng xem đây là một con số, 210 chỉ mang nghĩa biểu pháp. Trong Mật Tông, 21 là con số đại biểu cho sự viên mãn, 210 cõi ức Phật chính là 21 mở rộng ra. Trong thế giới vô lượng vô biên, 210 cõi ức Phật này có là bao. Đoạn này có nghĩa là trong tận hư không khắp pháp giới, có bao nhiêu cõi ức chư Phật thì Pháp Tạng Tỳ Kheo đều được Thầy của mình biến hiện để tham khảo, một cõi cũng không bỏ sót. Không những giảng giải tường tận cho Ngài, mà còn dùng thần lực biến hiện ra những cõi nước của Chư Phật để Ngài đích thân thấy được những cảnh giới cõi nước đó. Tỳ Kheo Pháp Tạng ghi lại ưu điểm của từng thế giới, loại bỏ hết khuyết điểm. Thời gian kéo dài đến 5 đại kiếp để kiến lập nên thế giới Tây Phương Cực Lạc. Với mỗi đại kiếp tính theo thời gian của nhân gian là hơn 1,3 tỷ năm. Sử dụng thời gian dài ngàn ức năm như vậy để phác thảo nên một đạo tràng tu học lý tưởng. Nếu không có tâm nhẫn nại thì việc học này làm sao có thể thành tựu cho được.

Phát 48 Đại Nguyện Và Ý Nghĩa Danh Hiệu “A Di Đà Phật”.

Trước Thầy của mình là Thế Gian Tự Tại Vương Phật, Tỳ Kheo Pháp Tạng phát 48 đại nguyện. Đối với các bậc Tổ Sư Đại Đức, những đại nguyện này như là lộ trình cứu độ chúng sanh vĩ đại. Ân Sư Lão Hòa Thượng Tịnh Không chia 48 đại nguyện này thành 3 nhóm chính:

  • Nhiếp Phật Độ Nguyện (từ nguyện 1 – 11): xây dựng môi trường sống tại Cực Lạc thế giới như tạo nên từ bảy báu, không có ba đường ác, chúng sanh Cực Lạc đều thân vàng kim trang nghiêm đồng nhất,…
  • Nhiếp Chúng Sanh Nguyện (từ nguyện 18 – 27): tập trung vào toàn bộ phương pháp tiếp dẫn cứu độ. Chỉ dẫn hành giả trì giữ danh hiệu, phát Bồ-đề tâm để vãng sanh về cõi nước của A Di Đà Phật.
  • Tự Thụ Dụng Nguyện (từ nguyện 28 – 48): nói về đầy đủ năng lực thần thông, diệu dụng, biện tài và thọ mạng vô biên cho cư dân Cực Lạc để có thể học tập, thuận tiện đi giáo hóa, cứu độ mười phương thế giới.

Và trong 48 Đại Nguyện này thì nguyện thứ 18 – Thập Niệm Tất Sanh là “Nguyện Vương” với nội dung: “Khi tôi thành Phật, chúng sanh mười phương chí tâm tin ưa, muốn sanh về cõi nước tôi, nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh, tôi thề không thành Chánh Giác”. Ân Sư đã chỉ rõ ba giá trị vô song của nguyện này:

  • Bình đẳng tuyệt đối: Pháp môn của chư Phật Như Lai vô lượng vô biên, duy chỉ có pháp môn niệm Phật vãng sanh là trong một đời chắc chắn được độ. Nguyện thứ 18 nêu rõ chỉ cần từ một đến mười niệm chí thành vào giờ phút cận tử nghiệp là có thể thoát ly tam giới, vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc. Lâm chung liền được “Đới Nghiệp Vãng Sanh” (mang theo nghiệp cũ sang cõi Phật tiếp tục tu hành)
  • Tha lực cứu độ: “Mười niệm thành Phật” với thời khắc cận tử nghiệp khi ý niệm cuối cùng của phàm phu đạt đến buông xả vạn duyên, không còn mê hoặc điên đảo thì tâm của hành giả tương ưng với tâm Phật liền được tiếp dẫn. Đây là Phật pháp chân thật đạt được phương tiện cứu cánh tối cao, không có gì phương tiện hơn, cứu cánh hơn.
  • Phương pháp Thập niệm: Đối với người bận rộn trong thời hiện đại, có một phương pháp giúp chúng sanh giữ gìn chánh niệm bền bỉ là “Phương Pháp Thập Niệm” (nghĩa là mỗi ngày niệm 10 lần và mỗi lần niệm 10 câu hồng danh A Di Đà Phật). Hành trì theo phương pháp này sẽ giúp cho chúng ta nhất tâm chánh niệm A Di Đà Phật, giữ thân tâm luôn an lạc, thanh thản ngay trong giây phút hiện tại. Thời gian được đề nghị là: ngay sau khi vừa thức giấc buổi sáng sớm, trước khi bắt đầu dùng điểm tâm, sau khi dùng điểm tâm, trước khi làm việc chính trong ngày, sau khi làm xong việc chính trong ngày, trước khi ăn trưa, sau khi ăn trưa, trước khi ăn tối, sau khi ăn tối và lúc trước khi đi ngủ.

Quý Cô Chú Anh Chị muốn tìm hiểu đầy đủ nội dung 48 Đại Nguyện của A Di Đà Phật có thể tìm đọc Phẩm 6, Kinh Vô Lượng Thọ. Phẩm này được gọi là cốt tủy của Bộ “Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh”. Cuối mỗi Đại Nguyện đều là: “Nếu không thành, thệ không thành Phật”. Sau vô lượng kiếp tích lũy công đức, cuối cùng cũng viên mãn đại nguyện. Tỳ Kheo Pháp Tạng thành Phật, danh hiệu là: “A Di Đà Phật”. Cõi nước của Ngài là Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, chúng sanh chỉ cần phát nguyện vãng sanh, đầy đủ Tín, Nguyện, Hạnh là có thể đến đó tiếp tục tu hành. Phật cho chúng ta một lợi ích vô cùng thù thắng, đó là dạy chúng ta một đời này được thành Phật. Pháp môn của Chư Phật Như Lai vô lượng vô biên, duy chỉ có pháp môn niệm Phật, đới nghiệp vãng sanh là trong một đời chắc chắn thành tựu. Chọn pháp môn này, trí tuệ và nhân duyên là thù thắng đệ nhất. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát chọn pháp môn này, Đại Thế Chí Bồ Tát chọn pháp môn này, Phổ Hiền Vương Bồ Tát cũng chọn pháp môn này. Nếu thật sự tin tưởng, ý chí tinh thần tập trung vào một câu Phật hiệu, niệm liên tục không gián đoạn, không xen tạp thì đây là pháp môn tiêu trừ nghiệp chướng bất khả tư nghì.
“Phật” có nghĩa là một người giác ngộ, đối với vũ trụ nhân sinh đều đã hiểu đến thấu triệt, cứu cánh viên mãn. “A Di Đà Phật” dịch thành Hán văn có nghĩa là “Vô Lượng Giác” (Sự giác ngộ viên mãn). Trong đó bao gồm hai đại bửu tính là: “Vô Lượng Quang” (Ánh sáng trí tuệ vô lượng) và “Vô Lượng Thọ” (Phước báu, thọ mạng vô lượng). Giác mà không mê, không một thứ nào mà không lý giải chân thật viên mãn, đây chính là hàm nghĩa danh hiệu “ A Di Đà Phật”. Ngày vía A Di Đà Phật là ngày 17/11 âm lịch – ngày sinh của Vĩnh Minh Diên Thọ Đại Sư. Ngài được xem là hóa thân của A Di Đà Phật. Ngày nay, bốn chữ: “A Di Đà Phật” đã trở nên vô cùng quen thuộc. Sau khi Tịnh Độ Tông phổ biến, đã thực sự đạt đến “người người niệm Phật, nhà nhà niệm Phật”.

Tây Phương Cực Lạc Thế Giới

Tây Phương Cực Lạc thế giới là trường học, là đạo tràng. Sự nghiệp của Phật là dạy học, sự nghiệp của đại chúng là cầu học. Phật dạy chúng ta niệm Phật, cầu vãng sanh là để đến đó làm học sinh, ngày ngày lên lớp. Với thọ mạng dài vô lượng kiếp và ngày ngày tiếp nhận sự chỉ dạy của Phật Đà, đâu có lý do nào mà không thành Phật? Quyết định chắc chắn thành tựu.

Tây Phương Cực Lạc thế giới là trường học, vãng sanh đến đó không có việc nào khác ngoài để tu học, trau dồi trí tuệ đức năng của mình cho viên mãn, sau đó quay về giúp đỡ những chúng sanh bị khổ nạn. Tôn chỉ của Tây Phương thế giới là tập huấn thành Phật và Bồ-tát. Khi đã tập huấn viên mãn, các vị Phật và Bồ-tát đến mười phương thế giới để độ hóa chúng sanh, không phải ở Tây Phương để hưởng lạc. Cho nên, pháp môn Tịnh Độ không tiêu cực, Tây Phương cũng không phải nơi để chúng ta tị nạn.

Tây Phương Cực Lạc thế giới chỉ có một việc làm: làm thầy giáo hoặc làm học sinh, ngoài việc đó ra không có việc nào khác. Giảng Kinh là thầy giáo, nghe Kinh là học sinh. Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng không nghe nói nơi đó có người làm công, làm ruộng, buôn bán, sản xuất,… những việc này đều không có. Cư dân Cực Lạc thế giới ngày ngày học tập, đọc những quyển sách mình thích, làm những việc hoan hỷ. Tây Phương thế giới là trường đại học Phật giáo do thập phương chư Phật đồng sáng lập, cung thỉnh A Di Đà Phật làm hiệu trưởng, trong đó người phụ trách, thành viên ban giám hiệu, thầy cô đều là Thập Phương Chư Phật Như Lai. Cõi Cực Lạc là nơi Phàm Thánh Đồng Cư độ. Cho nên, không có một vị Phật nào không khuyên tất cả chúng sanh cầu vãng sanh về nơi đó. Sanh đến Tây Phương so với những vị tu học ở nơi thế giới khác thì đạo nghiệp của quý vị mới có thể trong một đời thành tựu được, chắc chắn hơn và nhanh chóng hơn.

Kinh điển mô tả Cực Lạc có đất bằng vàng ròng, đường sá lầu các kiến tạo từ bảy báu. Lõi thế giới Tây Phương làm bằng Lưu Ly, cho nên Cực Lạc được thành tựu từ năng lượng thanh tịnh tuyệt đối. Không giống cõi Ta Bà, lõi là quả cầu nóng đỏ nên chúng sanh đời sống không thanh tịnh như thế giới Cực Lạc, ngũ dục lục trần che mờ chân tâm. Tu hành ở thế giới Cực Lạc chỉ có tiến bộ, không có thối chuyển. Còn tu hành ở thế giới Ta Bà là đại tiến, đại thoái. Nếu biết tu hành thì tiến bộ rất nhanh chóng, người không biết tu thì thối chuyển cũng rất nhanh. Nên mới nói, vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc là một đời chắc chắn thành tựu. Cư dân Cực Lạc có cuộc sống thanh nhàn tự tại. Thức ăn, y phục tự hiện ra theo ý nghĩ, thân kim cang bất hoại, tỏa ánh sáng vàng kim trang nghiêm, thọ mạng vô lượng. Tiếng gió thổi, nước chảy đều là tiếng nói diệu pháp vì Cực Lạc Thế Giới Y Chánh trang nghiêm. Sanh đến Tây Phương Cực Lạc thế giới ai ai cũng thần thông quảng đại. Tôn Ngộ Không trong phim “Tây Du Ký” không sao sánh nổi, kém hơn nhiều. Tề Thiên Đại Thánh chỉ có 72 phép biến hóa, chúng sanh Cực Lạc biến hóa vô lượng vô biên. Phân thân đi độ thân bằng quyến thuộc, còn bản thân thì không rời khỏi bên cạnh A Di Đà Phật. Quý vị có thể phân ra vô số thân, mỗi ngày đảnh lễ vô số Phật ở thập phương thế giới, độ vô số chúng sanh, đều là dùng phân thân mà đi. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới mới có được năng lực này.